Đề cương môn Luật Hành chính Việt Nam

Câu 1. Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính Việt Nam?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm:
Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong qua 1trình hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và ổn định chế độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính đối với các vấn đề do pháp luật qui định.
2. Đối tượng điều chỉnh:
Đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Những quan hệ này gọi là quan hệ quản lý hành chính nhà nước hay quan hệ chấp hành – điều hành. Nội dung của chúng thể hiện:
- Hoạt động quản lý các công tác xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh chính trị trong cả nước, ở từng địa phương hay từng ngành.
- Hoạt động kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện pháp luật của cơ quan đó.
- Xử lý hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước.
- Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc và hoàn chỉnh các quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước ...
các quan hệ quan hệ quản lý được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh rất đa dạng, đó là các quan hệ quản lý được hình thành trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng chấp hành – điều hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Chúng bao gồm các quan hệ điển hình:
a, Giữa cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới theo hệ thống dọc mà đặc biệt là những cơ quan hành chíng cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp.
b, Giữa cơ quan cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thhẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
c, Giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chíng nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp dưới nhằm thực hiện chức năng theo pháp luật.
d, Giữa những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
e, Giữa cơ quan hành chíng nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc trung ương đóng tại địa phương đó.
g, Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc.
h, Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
i, Giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội.
k, Giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân và người không quốc tịch, người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt nam.
Ngoài ra còn có một số quan hệ không điển hình, giữa cơ quan hành chính nhà nước với đối tượng quản lý của nó.
Bên cạnh những quan hệ quản lý kể trên, Luật hành chính còn điều chỉnh một số quan hệ quản lý khác như: các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan, nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình; các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật qui định.
3. Phương pháp điều chỉnh:
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh, đơn phương. Phương pháp này được xây dựng trên các nguyên tắc:
- Xác nhận sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính, một bên được nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các quyết định hành chính, còn bên kia phải phục tùng những mệnh lệnh ấy.
- Bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước có quyền quyết định công việc một cách đơn phương, xuất phát từ lợi ích chung của nhà nước, xã hội trong phạm vi quyền hạnh của mình để chấp hành pháp luật.
- Quyết định đơn phương của bên sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực bắt bộc thi hành đối với các bên hữu quan và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.


Câu 2. Quy phạm pháp luật hành chính. Phân loại quy phạm pháp luật hành chính?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm:
Quy phạm pháp luật hành chính là những quy tắc xử sự chung do các chủ thể có thẩm quyền ban hành ra theo trình tự, thủ tục, dưới hình thức nhất định do pháp luật quy định, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, có hiệu lực bắt buộc phải thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
2. Phân loại quy phạm pháp luật hành chính
Để phân loại quy phạm pháp luật hành chính người ta có thể dựa trên nhiều căn cứ khác nhau mà chủ yếu là:
a. Căn cứ vào chủ thể ban hành, các quy phạm pháp luật hành chính được phân thành:
- Quy phạm pháp luật hành chính của cơ quan quyền lực nhà nước.
- Quy phạm pháp luật hành chính của Chủ tịch nước.
- Quy phạm pháp luật hành chính của cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan này.
- Quy phạm pháp luật hành chính của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Quy phạm pháp luật hành chính của các cơ quan nhà nước hoặc cơ quan nhà nước phối hợp với tổ chức chính trị - xã hội ban hành.
b. căn cứ vào vào hiệu lực pháp luật của các quy phạm pháp luật hành chính, được phân thành:
- Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc (hay một số địa phương nhất định). Đây là quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương ban hành. Thường những quy phạm này có hiệu lực trên pạhm vi toàn quốc. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt khi các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương thu hẹp phạm vi hiệu lực pháp lý của các quy phạm này thì chúng chỉ có hiệu lực đối với một số địa phương nhất định. Ngược lại những quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương cũng có thể có hiệu lực pháp lý vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ Việt nam tác động đến các tổ chức, c1 nhân Việt Nam đang học tập, công tác, hoạt động ở nước ngoài....
- Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực pháp lý trong phạm vi một địa phương. Đây là những quy phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương ban hành.
c. Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật hành chính, chúng được phân thành:
- Quy phạm pháp luật hành chính trao quyền. Đây là những quy phạm pháp luật hành chính cho phép các tổ chức, cá nhân có liên quan được thực hiện những hành vi nhất định hoặc cho phép các chủ thể đó được lựa chọ những cách thức xử sự để hành động phù hợp với các yêu cầu mà quy phạm pháp luật hành chính đề ra.
- Quy phạm pháp luật đặt nghĩa vụ. Đây là những quy phạm pháp luật hành chính buộc các đối tượng có liên quan phải thực hiện những hành vi nhất định trong quản lý hành chính của nhà nước.
- Quy phạm pháp luật hành chính ngăn cấm. Đây là loại quy phạm pháp luật hành chính bắt buộc các đối tượng liên quan không thực hiện những hành vi nhất định.
 d. căn cứ vào tính chất của các quy phạm pháp luật hành chính, chúng được phân thành:
- Quy phạm pháp luật hành chính nội dung. Đây là quy phạm pháp luật hành chính đề cập đến các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý hành chính nhà nước.
- Quy phạm pháp luật hành chính thủ tục. Đây là loại quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các đối tượng có liên quan trong quản lý hành chính nhà nước.

Câu 3. Quan hệ pháp luật hành chính. Cơ sở làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm:
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được các quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh giữa các chủ thể mang quyền và nhĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
Là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật hành chính mang đầy đủ các đặc điểm của quan hệ pháp luật. Chúng là những quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Đồng thời, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ có tính chất tương ứng với nhau. Bên cạnh những đặc điểm chung đó, quan hệ pháp luật hành chính còn có những đặc trưng riêng. Những đặc điểm đặc trưng riêng đó là:
- Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật hành chính gắn liền với hoạt động quản lý hành chính nhà nước;
- Thứ hai, quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp của bất kỳ bên nào, sự thoả thuận của phía bên kia không phải là điều kiện bắt buộc để hình thành quan hệ pháp luật hành chính;
- Thứ ba, một bên trong quan hệ pháp luật hành chính nhà nước phải là chủ thể được sử dụng quyền lực nhà nước. chủ thể này trong quan hệ pháp luật hành chính được gọi là chủ thể bắt buộc;
- Thứ tư, phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước giải quyết, theo trình tự thủ tục hành chính. Trong những trường hợp được pháp luật quy định, nếu việc giải quyết tranh chấp hành chính bằng con đường hành chính không thoả mãn với các yêu cầu của các tổ chức cá nhân có liên quan, họ có thể yêu cầu toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính;
- Thứ năm, bên vi phạm nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật hành chính phải chịu trách nhiệm pháp lý trước nhà nước chứ không phải bên kia của quan hệ pháp luật hành chính.
2. Cơ sở làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính
Cũng như mọi quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật hành chính phát sinh, thay đổi, chấm dứt dựa trên những căn cứ sau:
- Quy phạm pháp luật hành chính: các quy phạm pháp luật hành chính đã xác định điều kiện, hoàn cảnh làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính. Chính vì thế, quy phạm pháp luật hành chính là cơ sở về mặt pháp lý cho việc hình thành, phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính.
- Năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính. Quan hệ pháp luật hành chính chỉ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt giữa các chủ thể có đầy đủ năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật hành chính.
- Sự kiện pháp lý hành chính. Đây là những sự kiện nảy sinh trong thực tế mà khi xuất hiện chúng pháp luật hành chính gắn với việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính. Đây là cơ sở thực tế cho việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính.
Các sự kiện pháp lý hành chính được phân thành:
+ Sự biến pháp lý hành chính: là những hiện tượng tự nhiên mà khi xuất hiện những hiện tượng này trên thực tế pháp luật hành chính gắn chúng với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính.
+ Hành vi pháp lý hành chính: là hành động hoặc không hành động của tổ chức, cá nhân mà chúng xảy ra trên thực tế làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính. Thường hành vi pháp lý hành chính bao gồm các dạng: hành vi thực hiện quyền của các chủ thể trong quản lý hành chính nhà nước; hành vi thực thực hiện nghĩa vụ trong quản lý hành chính nhà nước; hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý hành chính.


Câu 4. Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính?
TRẢ LỜI:
Nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước là tổng thể các quy phạm pháp luật hành chính có nội dung đề cấp tới những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước thường được phân thành hai nhóm:
A. Các nguyên tắc chính trị xã hội:
Là các nguyên tắc chung, được quán triệt trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong đó có hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Đây là các nguyên tắc thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp của nhà nước. Nhóm này bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau:
1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước:
Đây là nguyên tắc cơ bản đặt lên hàng đầu trong quản lý hành chính nhà nước. Biểu hiện cụ thể ở các hình thức và phương pháp hoạt động của tổ chức Đảng: trước hết Đảng lãnh đạo quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước; Thứ hai,vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ; Thứ ba, Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng hình thức kiểm tra. Kiểm tra của các tổ chức Đảng là kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Cùng với những hình thức này, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Đảng và các Đảng viên.
2. Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước:
Trong quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc này được biểu hiện cụ thể ở những hình thức tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động. Đây là những hình thức được ghi nhận trong pháp luật và đảm bảo thực hiện bằng các phương tiện của nhà nước. Các hình thức tham gia vào quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động bao gồm: Tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước; tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội; tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở; trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước.
3. Nguyên tắc tập trung – dân chủ:
Tập trung dân chủ là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta cho nên việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước tất nhiên cũng phải tuân thủ nguyên tắc này. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở những điểm sau: Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp; sự phục tùng của cấp dưới đối vơí cấp trên, địa phương với trung ương; sự phân cấp quản lý; sự hướng về cơ sở; sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
4. Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc:
Điều 5 hiến pháp năm 1992 xác định rằng “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. Quy định này của Hiến pháp đã đặt nền móng về mặt pháp lý cho việc xây dựng và thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc trong quản lý hành chính nhà nước. Nguyên tắc này biểu hiện cụ thể: trong công tác đào tạo và sử dụng cán bộ; trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội.
5. Nguyên tắc pháp chế XHCN:
Quản lý hành chính nhà nước là một công việc phức tạp bao gồm nhiêù lĩnh vực hoạt đông khác nhau. Đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý hành chính nhà nước có nghĩa là phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu đối với từng lĩnh vực hoạt động khác nhau đó, cụ thể là:
- Trong hoạt động ban hành văn bản pháp luật.  Đòi hỏi: các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành đúng thẩm quyền, có nội dung hợp pháp và thống nhất, ban hành đúng tên gọi và hình thức được pháp luật quy định, ban hành đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
- Trong hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật. Đòi hỏi: Triệt để tôn trọng các văn bản pháp luật về thẩm quyền và nội dung ban hành; hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt, theo đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất; Xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật các hành vi vi phạm trong quản lý hành chính nhà nước.
B. Các nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật: 
Là những nguyên tắc mang tính đặc thù cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Nội dung của các nguyên tắc này chi phối các yếu tố mang tính chất kỹ thuật của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cho dù được thực hiện trong điều kiện chính trị hoặc giai cấp như thế nào, hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều phải tuân theo nguyên tắc đó. Nó bao gồm nhiều nguyên tắc ngưng có hai nguyên tắc cơ bản sau:
1. Nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địa phương.
2. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phối hợp quản lý liên ngành.   


Câu 5. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, tập trung dân chủ và pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phướng, quản lý theo ngành với quản lý theo chức năng?
TRẢ LỜI:
1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước:
Đây là nguyên tắc cơ bản đặt lên hàng đầu trong quản lý hành chính nhà nước. Biểu hiện cụ thể ở các hình thức và phương pháp hoạt động của tổ chức Đảng: trước hết Đảng lãnh đạo quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước; Thứ hai,vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ; Thứ ba, Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng hình thức kiểm tra. Kiểm tra của các tổ chức Đảng là kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Cùng với những hình thức này, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Đảng và các Đảng viên.
2. Nguyên tắc tập trung – dân chủ:
Tập trung dân chủ là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta cho nên việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước tất nhiên cũng phải tuân thủ nguyên tắc này. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở những điểm sau: Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp; sự phục tùng của cấp dưới đối vơí cấp trên, địa phương với trung ương; sự phân cấp quản lý; sự hướng về cơ sở; sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
3. Nguyên tắc pháp chế XHCN:
Quản lý hành chính nhà nước là một công việc phức tạp bao gồm nhiêù lĩnh vực hoạt đông khác nhau. Đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý hành chính nhà nước có nghĩa là phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu đối với từng lĩnh vực hoạt động khác nhau đó, cụ thể là:
- Trong hoạt động ban hành văn bản pháp luật.  Đòi hỏi: các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành đúng thẩm quyền, có nội dung hợp pháp và thống nhất, ban hành đúng tên gọi và hình thức được pháp luật quy định, ban hành đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
- Trong hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật. Đòi hỏi: Triệt để tôn trọng các văn bản pháp luật về thẩm quyền và nội dung ban hành; hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt, theo đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất; Xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật các hành vi vi phạm trong quản lý hành chính nhà nước.
4. Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương:
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành và quản lý theo chức năng luôn được kết hợp chặt chẽ với quản lý theo địa phương. Đó chính là sự phối hợp quản lý theo chiều dọc của các bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương, theo sự phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp. Sự kết hợp này đã trở thành một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước. sự kết hợp này là cần thiết bởi lẽ:
- Mỗi đơn vị, tổ chức của một ngành đều nằm trên lãnh thổ một địa phương nhất định;
- Ở mỗi địa bàn lãnh thổ nhất định hoạt động của ngành, lĩnh vực chuyên môn mang những nét đặc thù riêng;
- Trên lãnh thổ một địa phương có hoạt động của các đơn vị, tổ chức của các ngành khác nhau. Hoạt đông của các đơn vị tổ chức đó bị chi phối bởi yếu tố địa phương. Đồng thời các đơn vị tổ chức thuộc các ngành lại có mối liên hệ xuyên suốt trong phạm vi toàn quốc.
Sự phối hợp này được biểu hiện cụ thể qua các hoạt động: trong hoạt động quy hoạch và kế hoạch; trong xây dựng và chỉ đạo bộ máy chuyên môn; trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật; trong ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật.
5. Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo chức năng:
Nguyên tắc này thể hiện ở những nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý theo chức năng, cơ quan quản lý ngành trong việc thực hiện các công việc của quản lý hành chính nhà nước, cụ thể:
- Các cơ quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành các qui định, mệnh lệnh cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật, có tính chất bắt buộc phải thực hiện đôí với các ngành, các cấp, đồng thời các cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ do mình ban hành, xử lý hoặc đề nghị các cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các chính sách, chế độ do mình ban hành theo quy định của pháp luật.
- Các cơ quan quản lý ngành có quyền ban hành các quyết định quản lý có tính chất bắt buộc phải thực hiện đối với các ngành có liên quan trong phạm vi những vấn đề thuộc quyền quản lý của ngành và kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý đó.
- Trong phạm vi công việc của mình, các cơ quan quản lý theo ngành, quản lý theo chức năng có quyền phối hợp với nhau để ban hành các quyết định quản lý có hiệu lực chung trong phạm vi hoạt động các ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mà chúng được phân công.


Câu 6. Quản lý hành chính nhà nước. Hình thức quản lý hành chính nhà nước. Phương pháp quản lý hành chính nhà nước?
TRẢ LỜI:
1. Quản lý hành chính nhà nước:
Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và hành chính – chính trị của nước ta. Hay nói một cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước.
Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan kiểm sát, xét xử và các tổ chức xã hội, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý hành chính trong một số trường hợp cụ thể.
Khách thể của quản lý hành chính nhà nước là trật tự quản lý hành chính.
2. Hình thức quản lý hành chính nhà nước:
Hình thức quản lý hành chính nhà nước là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động chấp hành, điều hành do các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước thực hiện.
Các hình thức quản lý hành chính nhà nước bao gồm:
a. Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
Đây là hình thức pháp lý của hoạt động chấp hành – điều hành. Hoạt động này được gọi là hoạt động lập quy. Nó quy định chi tiết những vấn đề mà luật chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể. Trong các văn bản quy phạm pháp luật của mình, các cơ quan hành chính nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chấp hành, điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Thẩm quyền này của cơ quan nhà nước do pháp luật quy định.
b. Hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính:
 Đây là hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước. Thông qua hình thức này các cơ quan có thẩm quyền áp dụng quy phạm pháp luật hiện hành của nhà nước để giải quyết những công việc cụ thể. Những hoạt động này trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể.
c. Áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp:
Nội dung của hình thức hoạt động này không mang tính chất quyền lực nhà nước, không có tính chất bắt buộc cứng rắn như các hình thức ban hành văn bản quản lý. Những hoạt động này rất đa dạng và có vai trò rất quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước. Thông qua đó các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước kiểm tra, hướng dẫn cac đối tượng quản lý trong việc thực hiện pháp luật, cung cấp thông tin, tư liệu tuyên truyền, giải thích pháp luật, tổng kết kinh nghiệm công tác thực hiện pháp luật.
d. Những hoạt động mang tính chất pháp lý khác như: cấp văn bằng, chứng chỉ, lập biên bản vi phạm, thu tiền phạt ... chúng có thể trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.
e. Những tác động về nghiệp vụ kỹ thuật:
Đó là những hoạt động dùng kiến thức nghiệp vụ, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình quản lý hành chính nhà nước. Những hoạt động này không mang tính chất pháp lý. Chúng ngày càng được chú trọng và góp phần quan trọng vào việc tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
3. Phương pháp quản lý hành chính nhà nước:
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích đặt ra theo kế hoạch định trước. Có các phương pháp quản lý hành chính nhà nước sau:
a. Phương pháp thuyết phục:
Là phương pháp quản lý bao gồm những hoạt động như giải thích, hướng dẫn, động viên, khuyến khích, trình bày, chứng minh, để đảm bảo sự cộng tác, tuân thủ hay phục tùng tự giác của đối tượng quản lý nhằm đạt một kết quả nhất định.
b. Phương pháp cưỡng chế nhà nước:
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân hay tổ chức nhất định, về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức đó thực hiện những hành vi nhất định do pháp luụât quy định, hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân đó.
Cưỡng chế của nhà nước XHCN là biện pháp của đa số với thiểu số và được áp dụng trong giới hạn do luật định. Có 4 loại cưỡng chế nhà nước:
- Cưỡng chế hình sự: là biện pháp cưỡng chế nhà nước được các cơ quan tư pháp áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội.
- Cưỡng chế dân sự: là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm các quy phạm pháp luật dân sự, gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể hoặc công dân.
- Cưỡng chế kỷ luật: là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước áp dụng đối với công nhân viên chức có hành vi vi phạm kỷ luật lao động trong nội bộ cơ quan, không gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với trật tự xã hội.
- Cưỡng chế hành chính: là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước và trong những trường hợp nhất định thì do Toà án, quyết định đối với cá nhân hay tổ chức đã có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định nhằm ngăn ngừa những vi phạm có thể xảy ra hay ngăn chặn những thiệt hại do thiên tai định hoạ gây ra.
c. Phương pháp hành chính:
Là phương pháp ra chỉ thị từ trên xuống. Phương pháp này bao hàm cả hai nhân tố; thuyết phục và cưỡng chế. Nó dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ.
d. Phương pháp kinh tế trong quản lý hành chính:
Đây là phương pháp dùng đòn bẩy kinh tế, nhằm động viên cá nhâ, tập thể tích cự lao động sản xuất, phát huy tài năng sáng tạo, hoàn thành nhiệm vụ được giao  với năng suất chất lượng hiệu quả cao, bảo đảm kết hợp chặt chhẽ lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng của người lao động.


Câu 7.   Thủ tục hành chính. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay?
TRẢ LỜI:
1. Thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính là cách thức thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước và cách thức tham gia vào các công việc quản lý hành chính nhà nước của các tổ chức,  cá nhân nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quản lý hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật.
Là một loại thủ tục pháp lý, thủ tục hành chính có một số đặc điểm sau:
- Thủ tục hành chính là một loại thủ tục do nhiều cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước thực hiện, những cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức thuộc cơ quan này là chủ thể chủ yếu thực hiện thủ tục hành chính.
-  Thủ tục hành chính được quy định trong Luật hành chính.
-  Thủ tục hành chính có tính phong phú, đa dạng.
-  Thủ tục hành chính là những loại thủ tục gắn với các loại công văn, giấy tờ.
2. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay:
+ Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay tập trung vào ba nội dung lớn:
- Cải cách bộ máy hành chính nhà nước trong đó tập trung vào việc điều chỉnh tổ chức và các mối quan hệ trong bộ máy hành chính nhà nước.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có năng lực, phẩm chất, đủ sức để thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Cải cách thể chế của nền hành chính và cải cách thủ tục hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá.
+ Ở nước ta, thủ tục hành chính còn bộc lộ một số nhước điểm sau:
- Đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân nhất là đối với những người ít biết các quy định vể lề lối làm việc trong cơ quan nhà nước.
- Nặng nề, nhiều cửa, nhiều cấp trung gian không cần thiết, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm.
- Trì trệ không phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới, còn có thói quen kinh nghiệm và dựa trên các cơ sở thực tế không còn thích hợp.
- Thiếu thống nhất, thường bị thay đổi một cách tuỳ tiện.
- Thiếu công khai.
Chính những điều này đã làm cho việc thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân bị gây phiền hà, ảnh hưởng đến công việc chung của các cơ quan nhà nước, cản trở việc mở cửa giao lưu hợp tác của nước ta, gây ra tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ, từ đó nảy sinh và phát triển nạn tham nhũng. Điều đó đòi hỏi phải cải cách thủ tục hành chính. Và đây là yêu cầu bức xúc đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta, là đòi hỏi của mọi tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước.
+ Việc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính phải tuân thủ một số yêu cầu cụ thể sau:
- Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống thủ tục hành chính.
 - Bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống thủ tục hành chính và theo đúng quy định của pháp luật.
- Bảo đảm tính hợp lý, khoa học, rõ ràng và dể hiểu, dễ thực hiện và công khai của thủ tục hành chính.
- Bảo đảm tính ổn định cần thiết của thủ tục hành chính.
- Xây dựng một cơ chế thích hợp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính đã ban hành.
+ Những công việc cần xúc tiến để cải cách thủ tục hành chính là:
- Tổ chức việc soát xét các thủ tục hành chính và các khoản phí, lệ phí đang áp dụng từ trung ương đến cơ sở; phân tích, đánh giá và phân loại: loại phải bãi bỏ, loại phải sửa đổi, loại cần được hợp pháp hoá, loại cần được hợp nhất thành một văn bản, loại cần giữ nguyên.
- Việc xử lý các thủ tục hành chính đã được phân loại phải thực hiện đúng thẩm quyền đã quy định trong Nghị quyết 38/CP, ngày 04/05/1994 của Chính Phủ.
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện việc cải cách thủ tục hành chính trong phạm vi quản lý của mình và phối hợp để giải quyết các khâu liên quan đến cơ quan khác.
Thực hiện công việc trên nhằm:
- Tinh giản thủ tục hành chính;
- Lập lại trật tự trong việc ban hành thủ tục hành chính và lệ phí, không được tuỳ tiện đặt thêm các thủ tục;
- Xây dựng quy chế công vụ và quy chế phối hợp giữa các cơ quan, công  chức có trách nhiệm giải quyết công việc của dân để thực hiện nguyên tắc một cửa;
- Mở rộng thông tin công việc nhà nước có liên quan đến dân để dân biết, bảo đảm quyền được thông tin của dân.


Câu 8. Quyết định hành chính. Phân loại quyết định hành chính?
TRẢ LỜI:
1. Quyết định hành chính:
Quyết định hành chính là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được biểu hiện dưới những hình thức nhất định tác đống đến các đối tượng nhất định trong qua 1trình hành pháp.
Với ý nghĩa như vậy. Quyết định hành chính cói thể là một hanh động hoặc một quyết định bằng văn bản. Quyết định hành chính có những dấu hiệu sau:
- Được ban hành, được thực hiện trên cơ sở luật và để thi hành lluật.
- Để tác động các quan hệ xã hội hoặc hành vi xử sự của con người (đối tượng) trong quá trình hành pháp.
- Do các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thhẩm quyền ban hành thực hiện theo quy định của pháp luật.
2. Phân loại quyết định hành chính:
Trong các hình thức quyết định hành chính, quyết định hành chính bằng văn bản thường có hai loại:
a. Quyết định quy phạm:
Trong Luật hành chính Việt nam- quyết định quy phạm hành chính được thể hiện dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật hành chính.
Văn bản quy phạm pháp luật hành chính là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng XHCN.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hành chính bao gồm:
- Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết.
Văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành: pháp lệnh, nghị quyết.
- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
+ Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước.
+ Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
+ Quyết định, thông tư , chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.
+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
+ Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước cóp thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội.
- Văn bản do Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của quốc hội, uỷ ban thưòng vụ quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nứoc cấp trên; văn bản do uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp. bao gồm: nghị quyết cũa hội đồng nhân dan; quyết định, chỉ thị của uỷ ban nhân dân
b. Quyết định hành chính cá biệt:
Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.
Qua trên, Quyết định hành chính theo luật hành chính có nét đặc trưng là quyết định hành chính cá biệt bằng văn bản do các cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền ban hành để giải quyết, xử lý một vấn đề nhất định trong lĩnh vực hành pháp; tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của các đối tượng có liên quan.


Câu 9. Tài phán hành chính. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân?
TRẢ LỜI:
1. Tài phán hành chính:
Tài phán hành chính Việt nam là hoạt động xét xử các vụ án hành chính theo quy định của Luật tố tụng hành chính và chủ yếu do Toà hành chính, các thẩm phán hành chính trong hệ thống Toà án nhân dân thực hiện nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
2. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân:
Theo Điều 11, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính các loại việc sau:
- 1, Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp tháo dỡ công trình xây dựng trái phép đối với nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố.
- 2,  Khiếu kiện quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính đối với hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.
- 3, Khiếu kiện quyết định về buộc thôi việc, trừ các quyết định về buộc thôi việc trong quân đội nhân dân và các quyết định về sa thải theo quy định của Bộ luật lao động.
- 4,  Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp phép, thu hồi giấy phép  trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, hoạt động sản xuất kinh doang, quản lý đất đai.
- 5,  Khiếu kiện quyết định trưng dụng, trưng mua tài sản, quyết định tịch thu tài sản.
- 6,  Khiếu kiện quyết định về việc thu thuế, truy thu thuế.
-  7, Khiếu kiện quyết định về thu phí, lệ phí.
- 8,  Khiếu kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính khác nhau theo quy định của pháp luật.
Trước mắt UBTVQH đã giao 7 loại việc cụ thể mà khi có khởi kiện theo quy định của pháp luật, toà án có thẩm quyền có trách nhiệm thụ lý giải quyết. Riêng các khiếu kiện tại khoản 8 nếu sau này do yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Quốc hội hoặc UBTVQH qui định, Toà án nhân dân tối cao sẽ có thông báo kịp thời đến các toà án nhân dân.
a. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân cấp huyện:
Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án hành chính các loại việc được quy định tại Pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính. Đó là khiếu kiện các quyết định hành chính của các cơ quan hành chính từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh thổ và quyết định hành chính của cán bộ, viên chức của các cơ quan nhà nước đó.
b. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân cấp tỉnh:
Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính được quy định tại Điều 11, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm các khiếu kiện hành chính sau:
- Quyết định hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, văn phòng Chủ tịch nước, văn phòng Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng các cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng lãnh thổ.
- Quyết định hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng lãnh thổ và quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ, viên chức của cơ quan nhà nước đó.
- Quyết định hành chính của các đơn vị chức năng của cơ quan nhà nước trung ương đóng tại địa phương và quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ, viên chức trong các đơn vị chức năng đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng lãnh thổ.
Ngoài ra trong trường hợp cần thiết, Toà án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết các vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.
c. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân tối cao:
Toà án nhân dân tối cao giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm những khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết đối với quyết định hành chính của cơ quan nhà nước cấp trung ương và quyết định hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng các cơ quan đó liên quan đến nhiều tỉnh, phức tạp hoặc trong trường hợp khó xác định được thuộc thẩm quyền của toà án cấp tỉnh nào; khiếu kiện quyết định hành chính của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh liên quan đến nhiều đối tượng, phức tạp hoặc trong trường hợp các thẩm phán của toà án cấp tỉnh đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.


Câu 10. Các giai đoạn tố tụng hành chính theo pháp luật hiện hành?
TRẢ LỜI:
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức toà án, căn cứ pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tố tụng hành chính được phân thành các giai đoạn chính sau:
1. Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính:
Khi công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế tháy rằng quyết định, hành vi hành chính cũ thể nào đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Toà hành chính giải quyết. Trước khi khởi kiện, cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức phải khiếu nại với cơ quan hành chính mà họ mà họ cho là trái pháp luật; trong trường jợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì họ có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của cơ quan nhà nước, người đã ra quyết định hành chính hoặc có hành vi mà theo quy định của pháp luật có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đó hay khởi kiện vụ án hnàh chính tại toà án có thẩm quyền.
Sau khi nhận được đơn kiện, Toà hành chính phải xem xét nếu xét thấy không tuộc trường hợp trả lại đơn thì Toà án thụ lý vụ việc kiện theo thẩm quyền.
2. Chuẩn bị xét xử:
Trong giai đoạn này, Toà hành chính thực hiện các công việc chuẩn bị, như yêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu, ....khi xét thấy cần thiết Toà có thể thu thập chứng cứ, xem xét tại chỗ, trưng cầu giám định ... sau khi nhận thấy việc thu thập chứng cứ đã đầy đủ, Toà hành chính phải xem xét và đưa ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử, tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án.
3. Xét xử sơ thẩm:
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Hội đồng xét xử vụ án hành cính gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.
Phiên toà có sơ thẩm được tiến hành với sự có mặt của đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Đối với người làm chứng, người phiên dịch, người giám định thì tuỳ từng vụ án cụ thể mà Toà hành chính xét thấy cần có mặt hay không. Sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cũng được pháp lệnh quy định tại Điều 18.
Về thủ tục phiên toà, pháp lệnh cũng quy định giống như thủ tục bắt đầu phiên toà xét xử vụ án dân sự hoặc vụ án kinh tế.
Các quyết định của Hội đồng xét xử phải do các thành viên của hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.
4. Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm:
Để bảo vệ quyền lợi cho các đương sự, trong tố tụng hành chính có quy định về quyền kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát để yêu cầu toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm là một giai đoạn độc lập trong tố tụng hành chính. Giai đoạn này có nhiệm vụ sửa chữa những sai lầm và vi phạm của toà án cấp sơ thẩm, bảo đảm việc áp dụng pháp luật đúng đắn và thống nhất.
Tính chất của việc xét lại bản án và quyết định theo thủ tục phúc thẩm là việc toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án sơ thẩm và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hay kháng nghị. Bản án và quyết định của toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.
Về trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm cũng tương tự như trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên do tính chất của giai đoạn này, cho nên phiên toà phúc thầm có những đặc thù so với phiên toà sơ thẩm.
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán. Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng tương tự như khi xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động ....
5. Xét lại bản án , quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm:
6. Thi hành bản án hành chính.


Câu 11. Vi phạm hành chính và cấu thành vi phạm hành chính?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm vi phạm hành chính:
Vi phạm hành chính là hành vi xâm phạm các quy định quản lý nhà nước, có lỗi và phải bị xử lý hành chính.
2. Cấu thành vi phạm hành chính:
Cấu thành vi phạm hành chính là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng thể hiện đầy đủ tính xâm hại cho trật tự quản lý nhà nước của một loại vi phạm hành chính.
- Mặt khách quan của hành vi vi phạm hành chính:bao gồm các dấu hiệu sau:
+ Hành vi vi phạm hành chính:
Hành vi vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ chức tác động vào thế giới khách quan dưới những hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại tới sự tồn tại và phát triển bình thường của các trật tự quản lý nhà nước. Những biểu hiện này được kiểm soát và điều khiển bởi ý chí của chủ thể vi phạm hành chính.
+ Hậu quả và mối quan hệ nhân quả;
Hậu quả của vi phạm hành chính là các quy tắc quản lý nhà nước bị hành vi vi phạm hành chính tác động tới, gây xâm hại.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính có mối liên hệ hữu cơ, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính. Việc xác định mối quan hệ nhân quả dựa trên những căn cứ sau:
Một là, hành vi trái pháp luật xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian.
Hai là, hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại quy  tắc quản lý nhà nước.
Ba là, hậu quả xâm hại đã xảy ra phải chính là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả.
+ Ngoài ra còn có một số dấu hiện khách quan như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm ... những dấu hiệu này tuy không phổ biến nhưng trong một số trường hợp chúng sẽ trở thành dấu hiệu bắt buộc.
- Mặt chủ quan của vi phạm hành chính:
Mặt chủ quan là quan hệ tâm lý bên trong, bao gồm các yếu tố: Lỗi, mục đích, động cơ. Trong đó yếu tố lỗi được coi là một dấu hiệu cơ bản trong cấu thành của mọi vi phạm hành chính, có ý nghĩa quyết định đến các yếu tố khác trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính.
+ Lỗi: Là trạng thái tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi vi phạm hành chính của mình. Lỗi trong Luật hành chính được quy định dưới hai hình thức cố ý và vô ý.
Lỗi cố ý là thái độ tâm lý của một người khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc nhưng lại có ý thức xem thường mặc dù họ hoàn toàn có khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ đó.
Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của một người khi thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình hoặc thiiêú thận trọng mà đã không nhận thức được những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo đúng nghĩa vụ này.
+ Mục đích:
Mục đích của vi phạm hành chính không phải là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi cấu thành của mọi loại vi phạm hành chính. Nó chỉ có ở một số trường hợp vi phạm hành chính nhất định và những trường hợp này đều có hình thức lỗi là cố ý.
+ Động cơ:
Là động lực bên trong thúc đẩy người vi phạm hành chính thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trừ những vi phạm hành chính với lỗi cố ý có mục đích xác định, phần lớn động cơ trong vi phạm hành chính là không rõ rệt. Nó không được coi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tất cả mọi lọi vi phạm hành chính.
- Khách thể của vi phạm hành chính:
 Là các quy tắc quản lý hành chính nhà nước. Khách thể của vi phạm hành chính là yếu tố cơ bản bắt buộc phải có trong mọi cấu thành của vi phạm hành chính. Khách thể của vi phạm hành chính gồm:
+ Khách thể chung: là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung.
+ Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chhất với nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước.
+ Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật quy định và bảo vệ bị chính hành vi vi phạm hành chính gây tác hại.
- Chủ thể của vi phạm hành chính:
+ Cá nhân: một cá nhân khi có hành vi vi phạm hành chính sẽ trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có đủ hai điều kiện: có năng lực trách nhiệm hành chính; đạt độ tuổi nhất định.
+ Tổ chức: Tổ chức là chủ thể đặc biệt của vi phạm hành chính. Trong cấu thành vi phạm hành chính của tổ chức, do không thể xác định được lỗi của nó nên yếu tố chủ quan không có ý nghĩa. Chỉ cần tổ chức đó có biểu hiện xâm hại đến khách thể trong lĩnh vực quản lý nhà nước, trái pháp luật hành chính là xem như đủ cơ sở để coi là chủ thể của vi phạm hành chính.


Câu 12. Xử phạt vi phạm hành chính. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính. Phân biệt xử phạt hành chính với các biện pháp xử lý hành chính khác?
TRẢ LỜI:
1. Xử phạt vi phạm hành chính:
Xử phạt VPHC là một loại hoạt động cưỡng chế hành chính cụ thể mang tính quyền lực nhà nước phát sinh khi có VPHC; biêủ hiện ở vệc áp dụng các chhế tài hành chính mang tính chất trừng phạt, gây cho đối tượng bị áp dụng thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần và do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật.
2. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính:
a. Các nguyên  tắc phân định thẩm quyền:
- UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt các VPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
- Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt các VPHC thuộc lĩnh vực hoặc ngành mình quản lý.
- Trường hợp VPHC thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì việc xử phạt do cơ quan thụ lý đầu tiên thực hiện.
b. Các nguyên tắc xử phạt các vi phạm hành chính:
- Mọi VPHC phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý phải được tiến hành nhanh chóng, công minh; mọi hậu quả do VPHC gây nên phải được khắc phục theo đúng pháp luật.
- Việc xử phạt VPHC phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.
- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt VPHC khi có hành vi vi phạm do pháp luật quy định.
- Một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt một lần.
Một người thực hiện nhiều hành vi VPHC thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm; nếu các hình thức xử phạt là phạt tiền thì được cộng lại thành mức phạt chung.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi VPHC thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt.
- Việc xử lý VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp.
- Không xử lý VPHC trong các trường hợp tuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc VPHC trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
c. Nguyên tắc về thời hiệu xử phạt VPHC, thời hạn ra quyết định xử phạt VPHC:
- Thời hiệu xử phạt VPHC là một năm kể từ ngày VPHC được thực hiện; thời hạn này là hai năm đối với các VPHC trong các lĩnh vực tài chính, xây dựng, môi trường, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, buôn bán hàng giả, nếu quá thời hạn nêu trên thì không xử phạt nhưng có thể bị áp dụng các biện pháp như: buyôc khôi phục tình trạng ban đầu, khắc phục tình trạng ô nhiểm môi trường sống, lây lan dịch bệng do hành vi VPHC gây ra, buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, văn hoá phẩm độc hại.
- Đối với cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt hành chính nếu hành vi có dấu hiệu VPHC; thời hiệu xử phạt là ba tháng kể từ ngày có quyết định đình chỉ.
Trong thời hạn nêu trên nếu cá nhân, tổ chức, có VPHC mới hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu nêu trên.
- Trong thời hạn mười lăm nghày, kể từ ngày lập biên bản về VPHC, người có thẩm quyền phải ra quyết định xử phạt; nếu có nhiều tình tiết phức tạp thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không được quá ba mươi ngày.
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC phải thi hành quyết định trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
d. các nguyên tắc xử lý khác:
Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính thuộc các nhóm xử lý khác cần phải tuân thủ triệt để những nguyên tắc sau:
- Chỉ được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác khi văn bản pháp luật quy định về xử phạt VPHC cho phép được áp dụng.
- Chỉ đựơc áp dụng biện pháp cưỡng chế khác kèm theo hình thức xử phạt mà không áp dụng những biện pháp này một cách độc lập.
- Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác phải triệt để tuân thủ các thủ tục được pháp luật quy định: Cơ quan, người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác của mình.
3. Phân biệt xử phạt hành chính với các biện pháp xử lý hành chính khác:
Xử phạt VPHC có bốn hình thức là cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng gấy phép và tịch thu tang vật, phương tiện VPHC. Còn các biện pháp xử lý hành chính khác là: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; dưa vào cơ sở chữa bệnh và quản chế hành chính.


Câu 13. Cưỡng chế hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính?
TRẢ LỜI:
1. Cưỡng chế hành chính:
Cưỡng chế hành chính bao gồm toàn bộ các biện pháp hạn chế uyền, bổ sung nghiã vụ mới và thực hiện bắt buộc nghĩa vụ đã không được thực hiện do luật hành chính quy định, được áp dụng trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, nhằm mục đích bảo vệ trật tự pháp luật.
Cưỡng chế hành chính là loại hình cưỡng chế độc lập trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Nó có những đặc điểm riêng phân biệt nó với các loại hình cưỡng chế nhà nước khác. Đó là:
- Cưỡng chế hành chính là loại cưỡng chế nhà nước được áp dụng trong quản lý hành chính nhà nước.
- Các biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng chủ yếu bỡi các cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
- Các biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính.
- Các biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng để bảo vệ các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau.
- Mọi biện pháp cưỡng chế hành chính nhà nước được áp dụng đều trong quan hệ mà ở đó, giữa các chủ thể không có quan hệ trực thuộc về mặt tổ chức.
2. Các biện pháp cưỡng chế hành chính:
- Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm khắc của các biện pháp cưỡng chế được áp dụng, các biện pháp cưỡng chế hành chính được chia thành hai loại:
+ Các biện pháp cưỡng chế đặc biệt, bao gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính. Đặc điểm của biện pháp này là chúng có mức độ nghiêm khắc cao.
+ Các biện pháp cưỡng chế hành chính thông thường: được quy định chủ yếu trong pháp lệnh xử lý VPHC và các văn bản pháp luật cụ thể hoá pháp lệnh này. Một bộ phận không nhỏ các biện pháp này được quy định trong một số văn bản pháp luật khác.
- Theo cách thức bảo vệ pháp luật, các biện pháp cưỡng chế hành chính được phân thành các nhóm:
+ Nhóm các biện pháp phòng ngừa hành chính: mục đích của biện pháp này là đề phòng các vi phạm pháp luật có thể xảy ra, bảo đảm an toàn cho xã hội và vì các lợi ích công cộng, tyrong các trường hợp thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, địch hoạ ....
+ Các biện pháp ngăn chặn hành chính: được áp dụng trên cơ sở vi phạm pháp luật, gắn liền với nhân tố vi phạm pháp luật. nhóm các biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo đuổi hai mục đích là chấm dứt sự tiếp diễn vi phạm và bảo đảm truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm có lỗi. Các biện pháp ngăn chặn hành chính có thể được áp dụng trong các giai đoạn khác nhu của thủ tục hành chính xử lý VPHC.
+ Các biện pháp khôi phục hành chính: được áp dụng trên cơ sở vi phãm pháp luật. Mục đích của chúng là khôi phục lại các quan hệ pháp luật, các quyền bị vi phạm trở lại trạng thái ban đầu, buộc thực hiện nghĩa vụ đã không được thực hiện. Trong luật hành chính, các biện pháp khôi phục hành chính nhiều và đa dạng: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bi thay đổi do VPHC, buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc thực hiện nghĩa vụ đóng thuế ... Nhóm các biện pháp khôi phục hành chính thực chất là chế tài hành chính. Bởi vì nó giải quyết vvề thực chất vi phạm pháp luật và thể hiện là hậu quả kết cục của vi phạm pháp luật.
+ Các biện pháp phạt hành chính: chúng được áp dụng trên cơ sở VPHC đã xảy ra, nhằm mục đích trừng trị người vi phạm
Trong các nhóm biện pháp cưỡng chế hành chính này chỉ có biện pháp phòng ngừa hành chính được áp dụng một cách độc lập. ba biện pháp còn lại nói chung được áp dụng trong các mối quan hệ với nhau.


Câu 14. Địa vị pháp lý hành chính của Chính phủ. Quyền hạn của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ?
TRẢ LỜI:
1. Địa vị pháp lý hành chính của Chính phủ:
Theo hiến pháp năm 1992:
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
2. Quyền hạn của Chính phủ:
Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;
2- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;
3- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
4- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước;
5- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;
6- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;
7- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
8- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
9- Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;
10- Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
11- Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
3. Quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ:
Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp; chủ toạ các phiên họp của Chính phủ;
2- Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ; trình Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;
3- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầu cử; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
4- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên;
5- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;
6- Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.


Câu 15. Cơ quan hành chính địa phương?
TRẢ LỜI:
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một loại cơ quan của chính quyền địa phương do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp bầu ra; vừa là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp vừa phục tùng cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, có chức năng cơ bản là quản lý hành chính nhà nước trong phạm vi địa phương.
Theo Hiến pháp năm 1992:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. 
Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước.
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Uỷ ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo, điều hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân.
Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Uỷ ban nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân và các văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những nghị quyết đó.
Về tổ chức:
UBND do Hội đồng nhân dân bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ viên. Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND. Các thành viên khác không nhất thiết là đại biểu HĐND.
Số lượng thành viên UBND mỗi cấp được quy định:
- UBND cấp tỉnh có từ chín đến mười một thành viên; UBND thành phố Hà Nội và thành phố HCM có không quá mười ba uỷ viên.
- UBND cấp huyện có từ bảy đến chín thành viên.
- UBND cấp xã có từ năm đến bảy thành viên.
UBND mỗi tháng họp ít nhất một lần. UBND thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề sau:
- Chương trình làm việc của UBND.
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của địa phương trình HĐND.
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của HĐND về kinh tế - xã hội, thông qua báo cáo của UBND trước HĐND.
- Đề án thành lập mới, sát nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc UBND và việc phân vạch địa giới đơn vị hành chính ở địa phương.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND:
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp mình, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghgiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên.


Câu 16. Cán bộ, công chức. Quy chế cán bộ, công chức?
TRẢ LỜI:
1. Cán bộ, công chức:
Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách.
Các nguyên tắc hoạt động của Cán bộ, công chức:
- Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ công tác được giao.
- Cán bộ, công chức ngoài việc thực hiện các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức còn phải tuân theo các quy định có liên quan về chống tham nhũng thực hành tiết kiệm.
- Công tác cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị.
2. Quy chế cán bộ, công chức:
a. Nghĩa vụ của CBCC:
Cán bộ, công chức có một số nghĩa vụ cơ bản sau:
- Trung thành với nhà nước CHXHCNVN; bảo vệ sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia.
- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước; thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật.
- Tận tuỵ phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tham gia sinh hoạt với cộng đồng dân cư nơi cư trú, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
- Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.
- Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong công tác; thực hiện nghi6m chỉnh nội quy của cơ quan, tổ chức; giữ gìn và bảo vệ của công, bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Thường xuyên học tập nâng cao trình độ; chủ động, sáng tạo, phối hợp trong công tác nhằm hoàn thành tố nhiệm vụ, công vụ được giao.
- Chấp hành sự điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Và các nghĩa vụ khác do pháp luật quy định.
b. CBCC có các quyền lợi sau:
- Được nghỉ hàng năm và nghỉ việc riêng theo quy định của Luật lao động.
- Trong trường hợp có lý do chính đáng được nghỉ không hưởng lương sau khi được sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng CBCC.
- Được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và chế độ tử tuất theo quy định của bộ luật lao động.
- Được hưởng chhế độ hưu trí, thôi việc theo quy định.
- CBCC là nữ còn được hưởng các quyền lợi quy định của bộ luật lao động.
- Được hưởng các quyền lợi do pháp luật quy định.
c. Khen thưởng và xử lý vi phạm:
CBCC có thành tích trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xét khen thưởng theo các hình thức sau:
1) Giấy khen; 2) bằng khen; 3) danh hiệu vinh dự nhà nước; 4) huy chương; 5) Huân chương. Việc khen thưởng CBCC được thực hiện theo quy định của pháp luật. CBCC lập thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xét nnâng ngạch, nâng bậc lương trước thời hạn.
CBCC vi phạm các quy định của pháp luật nếu chưa đến mức độ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau; 1) khiển trách; 2) cảnh cáo; 3) hạ bậc lương; 4) hạ ngạch; 5) cách chức; 6) buộc thôi việc. Việc xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức quản lý CBCC.
Ngoài ra quy chế về CBCC còn có những quy định về; Những việc CBCC không được làm; Bầu cử, tuyển dụng, sử dụng CBCC và quản lý CBCC.



Câu 17. Các tổ chức xã hội và quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội?
TRẢ LỜI:
1. Các tổ chức xã hội:
Tổ chức xã hội là hình thức tự nguyện của nhân dân, hoạt động theo nguyên tắc tự quản nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Mỗi tổ chức xã hội đều có những hoạt động đặc thù phản ánh vị trí, vai trò của mình trong hệ thống chính trị. Mặt khác, các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung nhất định, đó là:
- Các tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành viên cùng chung một lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, sở thích ....
- Các tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lý nhà nước.
- các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng hoặc theo quy định của nhà nước.
- các tổ chức xã hội hoạt động nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng, chính đáng của các thành viên và mục đích hoạt động chính của tổ chức xã hội không phải là phân chia lợi nhuận.
2. Quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội:
quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội là tổng thể các quy định của pháp luật về tổ chức xã hội. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức xã hội là phần quan trọng trong quy chế pháp lý hành chính của chúng.
Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ cho các tổ chức xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức xã hội tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội được quy định tại nhiều văn bản luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật công đoàn, Pháp lệnh tổ chức luật sư, Pháp lệnh thành tra, Nghị định 116/CP về tổ chức trọng tài kinh tế ... Các quyền và nghĩa vụ này phát sinh bên ngoài tổ chức, xác định đại vị pháp lý cũng như năng lực chủ thể để các tổ chức xã hội tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Những quyền và nghĩa vụ của tổ chức xã hội được xác định trong quy chế hành chính của chúng là những quyền và nghĩa vụ mang tính pháp lý, khác với những quyền và nghĩa vụ được quy định trong điều lệ tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội.
Các tổ chức xã hội khác nhau thì có các quyền và nghĩa vụ khác nhau. Sự khác biệt đó bắt nguồn từ sự khác biệt về vị trí, vai trò và phạm vi hoạt động của các tổ chức xã hội. Pháp lệnh quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của các tổ chức xã hội, đồng thời đề ra những đảm bảo pháp lý nhằm ngăn ngừa những hành vi cản trở hoạt động của tổ chức xã hội. Những người có hành vi vi phạm pháp luật cản trở các tổ chức xã hội, các thành viên của tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ thì tuỳ theo mức độ của hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm pháp lý.
a. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức xã hội trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước:
Giữa tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước có mối quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình hình thành, tồn tại và  phát triển. các tổ chức xã hội khác nhau thì có các quyền và nghĩa vụ khác nhau trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước tuỳ thuộc vào vai trò của chúng trong hệ thống chính trị.
b. Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội trong lĩnh vực xây dựng pháp luật:
Điều 87 Hiến pháp 1992 quy định: mặt trận tổ quốc VN và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước quốc hội.
Các tổ chức xã hội có quyền đóng góp ý kiến cho các dự án pháp luật của nhà nước, thông qua hoạt động này các tổ chức xã hội chỉ ra những khiếm khuyết trong các dự án pháp luật đó và thay mặt nhân dân lao động – những thành viên của tổ chức – đưa ra những nguyện vọng, mong muốn chính đáng để nhà nước xem xét khi đặt ra các quy phạm pháp luật.
c. Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội trong lĩnh vực thực hiện pháp luật:
Tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ của mọi tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật. thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát này các tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Các tổ chức xã hội có quyền và nghĩa vụ tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật đối với các thành viên trong tổ chức và đối với nhân dân lao động nói chung.


Câu 18. Quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt nam?
TRẢ LỜI:
Quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt nam là tổng thể các quy phạm pháp luật về quyền tự do và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước và về những bảo đảm hành chính đối với các quyền, tự do và nghĩa vụ đó.
Quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt nam được xây dựng trên các nguyên tắc sau:
- Quy chế pháp lý hành chính của công dân được xây dựng trên cơ sở và bảo đảm thực hiện các quyền, tự do và nghĩa vụ của công dân đã được Hiến pháp quy định.
- Mọi công dân Việt nam không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, nghề nghiệp, nơi cư trú, bình đẳng trong việc hưởng quy chế pháp lý hành chính.
- Quyền và nghĩa vụ của công dân là hai mặt không thể tách rời trong quan hệ quản lý hành chính nhà nước.
- Công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội. Nhà nước không ngừng bảo đảm cho công dân có điều kiện phát triển toàn diện.
Quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt nam:
1. Địa vị pháp lý hành chính của công dân Việt nam:
- Theo Hiến pháp 1992: Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của nhà nước và của địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý.
- Địa vị pháp lý hành chính của công dân là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của công dân được các quy phạm pháp luật hành chính quy định.
- Địa vị pháp lý hành chính của công dân được thể hiện tông qua vai trò của công dân trong việc tham gia vào quản lý hành chính nhà nước cũng như là nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền và nghgiã vụ pháp lý hành chính của công dân.
Việc tham gia vào quản lý hành chính nhà nước của công dân rất đa dạng về hình thức và tính chất. Công dân có thể nhân danh quyền lực nhà nước (với tư cách là chủ thể quản lý hành chính nhà nước) hoặc nhân danh chính mình (với tư cách là đối tượng quản lý hành chính nhà nước).
a. Công dân tham gia trực tiếp vào quản lý hành chính nhà nước:
- Công dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nuớc với tư cách là chủ thể quản lý hành chính nhà nước: phù hợp với nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong một số trường hợp cụ thể nhà nước còn trao quyền quản lý hành chính nhà nước cho công dân. Nhà nước thường trao quyền quản lý hành chính cho công dân đối với những công việc gần gủi với hoạt động bình thường của họ mà nhà nước xét thấy không cần phải trực tiếp quản lý.
- Công dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước với tư cách là đối tượng quản lý hành chính:
+ Công dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước cụ thể với tư cách là đối tươịng quản lý hành chính nhà nước: công dân có thể chủ động hoặc theo yêu cầu bắt buộc của nhà nước tham gia vào các quan hệ quản lý hành chính nhà nước cụ thể nhằm thực hiện những công việc nhất định trong quản lý hành chính nhà nước. các quan hệ hành chính nhà nước cụ thể giữa công dân và nhà nước thường được thiết lập trong các trường hợp:
* Trường hợp công dân thực hiện quyền của mình trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước;
* Trường hợp công dân thực hiện nghĩa vụ của mình trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước;
* Trong các quan hệ quản lý hành chính nhà nước được thiết lập do việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý hành chính của công dân.
* Trường hợp công dân yêu cầu chủ thể quản lý hành chính nhà nước bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại
+ Công dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở chấp hành quy phạm pháp luật hành chính mà không đòi hỏi phải thiết lập các quan hệ quản lý hành chính nhà nước cụ thể.
b. Công dân tham gia gián tiếp vào quản lý hành chính nhà nước:
- Công dân tham gia gián tiếp vào quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước.
- Công dân tham gia gián tiếp vào quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội.
2. Những bảo đảm pháp lý hành chính đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính của công dân:
- Thủ tục hành chính;
- Các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các vi phạm quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính của công dân.
- Chế độ trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý hành chính của công dân.


Câu 19. Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài ở Việt Nam?
TRẢ LỜI:
Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài ở Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật Việt nam về quyền, tự do, nghĩa vụ của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước và về những bảo đảm hành chính đối với các quyền, tự do và nghĩa vụ đó.
Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài ở Việt nam có những đặc điểm:
- Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài ở Việt nam được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt nam ban hành và được nhà nước cộng hoà XHCN Việt nam bảo đảm thực hiện.
- Mặc dù công dân nước ngoài cư trú tại Việt nam phải chịu sự tài phán của hai hệ thống pháp luật; Pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, nhưng nhà nước Việt nam chỉ thừa nhận và bảo đảm việc tham gia vào quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nhà nước Việt Nam chỉ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật của Việt nam khi cư trú trên lãnh thổ Việt nam mà không truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với họ khi vi phạm pháp luật của nước khác.
- Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bình đẳng trong việc tham gia vào quản lý hành chính nhà nước không phân biệt màu da, tôn giáo, nghề nghiệp, giới tính, thành phần xã hội.
- Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài ở Việt nam có hạn chế nhất định so với công dân Việt nam.
Nội dung quy chế pháp lý hành chính của ngươpì nước ngoài ở Việt nam:
1. Người nước ngoài được hưởng một số quyền và phải thực hiện một số nghĩa vụ pháp lý hành chính như công dân VN:
Theo hiến pháp 1992: Người nước ngoài cư trú tại VN phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật VN, được nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật VN.
Phù hợp với quy định trên, người nước ngoài ở VN được hưởng một số quyền và phải thực hiện một số nghĩa vụ pháp lý hành chính nhất định như công dân VN
Trong một số trường hợp Nhà nước VN uỷ quyền cho cá nhân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước mà không phân biệt cá nhân đó là công dân VN hay người nước ngoài.
2. Một số hạn chế về địa vị pháp lý hành chính của người nước ngoài so với công dân VN:
- Người nước ngoài không có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực của nhà nước VN, không có quyền tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước với tư cách là cán bộ, công chức.
- Người nước ngoài không phải làm nghĩa vụ quân sự đối với Nhà nước VN; không bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào các cơ sở giáo dục, đưa vào các cơ sở chữa bệnh và quản chế hành chính.
- Người nước ngoài có quyền làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại VN nhưng phải có giấy phép lao động do Bộ Lao động – thương binh và xã hội VN cấp.
- Người nước ngoài có quyền kinh doanh, trừ một số ngành nghề liên quan đến an ninh quốc phòng.
- Nhà nước CHXHCN VN xác lập và thực hiện các biện pháp bảo đảm đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào VN.
- Nhà nước CHXHCN VN bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại VN.
- Người nước ngoài được vào học tại các trường học VN, trừ một số trường, ngành học có liên quan đến an ninh quốc phòng.
- Người nước ngoài có quyền kết hôn với công dân VN, tuy nhiên nếu kết hôn với công dân VN đang phục vụ trong quân đội, các ngành liên quan đến bí mật quốc gia phải được các cơ quan có thẩm quyền của VN xác nhận việc kết hôn đó không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái với quy chế của ngành đó.
- Người nước ngoài được nhận trẻ em VN làm con nuôi với một số điều kiện nhất định.
- Người nước ngoài được cư trú ở VN dưới hình thức tạm trú hoặc thường trú ngoài những khu vực cấm, người nước ngoài ở VN có thể bị chấm dứt cư trú trước thời hạn nếu bị cơ quan có thẩm quyền của VN trục xuất.
- Người nước ngoài không được kết nạp vào một số tổ chức xã hội của VN.
3. Những bảo đảm pháp lý hành chính đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú tại VN:
Ngoài những hạn chế nói trên xuất phát từ nguyên tắc quốc tịch bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ VN, người nước ngoài không những được hưởng quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý hành chính như đối với công dân VN mà còn được nhà nước CHXHCN VN bảo đảm pháp lý hành chính như đối với công dân VN.


Câu 20. Quy chế quản lý tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp?
TRẢ LỜI:
Tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp phải được sử dụng đúng mục đích, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; không được sử dụng vào mục đích cá nhân, kinh doanh và các mục đích khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng, xe ô tô, nhà làm việc và công trình xây dựng khác trong khu vực hành chính sự nghiệp.
- Cơ quan trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có trách nhiệm đăng ký tài sản với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền. tài sản phải đăng ký gồm: nhà, đất đai và các công trình xây dựng gắn liền với đất đai, các phương tiện vận tải và các tài sản khác có giá trị lớn.
Nội dung đăng ký gồm: tên, đặc điểm, ký hiệu tài sản, diện tích (nhà đất), đặc điểm kỹ thuật, giá trị, mục đích sử dụng, thời gian bắt đầu đưa vào sử dụng.
- Mở sổ sách theo dõi cả về hiện vật, và giá trị đối với mọi tài sản nhà nước; báo cáo định kỳ hàng năm, báo cáo đột xuất về tài sản nhà nước theo quy định.
- Việc đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng khác và tài sản gắn liền với đất đai khu vực hành chính sự nghiệp được thực hiện như sau:
+ Hàng năm, các đơn vị thụ hưởng nhân sách nhà nước lập báo cáo với ngành chủ quản cấp trên về nhu cầu xây dựng mới hoặc xây thêm nhà, công trình xây dựng khác và tài sản gắn liền với đất đai.
+ Các cơ quan tài chính nhà nước phối hợp với cơ quan kế hoạch và đầu tư căn cứ vào thực trạng về nhà, công trình xây dựng khác của các cơ quan hành chính sự nghiệp; căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức sử dụng nhà, công trình xây dựng của từng cơ quan để thẩm định nhu cầu đầu tư xây dựng để quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định danh mục dự án và vốn đầu tư xây dựng ghi vào dự toán ngân sách nhà nước hàng năm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
- Việc mua sắm phương tiện vận tải và trang thiết bị làm việc cho các cơ quan hành chính sự nghiệp được thực hiện như sau:
+ Hàng năm, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước căn cứ vào thực trạng phương tiện, trang thiết bị hiện có; căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô do Thủ tướng Chính phủ quy định và tiêu chuẩn, định mức sử dụng của từng chủng loại tài sản khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định để xác định nhu cầu mua sắm phương tiện vận tải và trang tiết bị làm việc, lập dự toán báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để trình cấp có thẩm quyền  xem xét quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
+ Sau khi dự toán chi về mua sắm phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc được cơ quan có thẩm quyền duyệt thì: các cơ quan tài chính nhà nước cấp phát kinh phí mua sắm cho từng cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp có trách nhiệm sử dụng kinh phí đúng mục đích và thực hiện chế độ đăng ký, báo cáo tài sản theo đúng quy định; kết thúc năm ngân sách, cơ quan  hành chính sự nghiệp phải quyết toán đầy đủ, kịp thời kinh phí mua sắm tài sản theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
- Việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản khu vực hành chính sự nghiệp được thực hiện như sau:
+ Mọi tài sản nhà nước trong cơ quan hành chính sự nghiệp đều phải được bảo dưỡng, sửa chữa theo đúng chế độ, tiêu chuẩn kỹ thuật.
+ Hàng năm, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước căn cứ vào thực trạng tài sản và chế độ, tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, lập dự toán chi về bảo dưỡng, sửa chữa tài sản báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xem xét đưa vào dự toán ngân sách trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
+ Sau khi dự toán chi về bảo dưỡng, sửa chữa tài sản được duyệt thì cơ quan hành chính sự nghiệp có trách nhiệm sử dụng kinh phí đúng mục đích và có hiệu quả.
- Việc điều chuyển tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp phải được thực hiện theo đúng quy định. Mọi tài sản nhà nước khi điều chuyển từ cơ quan này sang cơ quan khác phải được kiểm kê, xác định giá trị còn lại, ghi tăng, giảm tài sản và giá trị tài sản, đăng ký lại tài sản đối với số tài sản phải đăng ký.
Điều kiện, trình tự, thủ tục điều chuyển tài sản nhà nước giữa các cơ quan hành chính sự nghiệp do Bộ Tài chính quy định.
- Tài sản nhà nước bị thu hồi trong các trường hợp sau:
+ Đơn vị được giao trực tiếp sử dụng tài sản không còn nhu cầu sử dụng hoặc giảm nhu cầu sử dụng do sát nhập, hợp nhất, thay đổi chức năng, nhiệm vụ và các nguyên nhân khác.
+ Tài sản nhà nước thừa so với tiêu chuẩn, định mức được phép sử dụng.


Câu 21. Quy chế quản lý tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp?
TRẢ LỜI:
1. Quyền hạn của doanh nghiệp trong quản lý vốn và tài sản nhà nước:
Theo quy định của luật doanh nghiệp nhà nước, thì doanh nghiệp nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do nhà nước giao theo quy định của pháp luật; có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp trừ những thiết bị, nhà xưởng quan trọng theo quy định của Chính phủ phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm mquyền cho phép trên nguyên tắc baỏ toàn vốn và phát triển nguồn vốn; đối với đất đai, tài nguyên thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật; đầu tư, liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần theo quy định của pháp luật.
Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, thực hiện các quyền trên khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Doanh nghiệp nhà nước còn có quyền về quản lý tài chính: sử dụng vốn và các quỹ của doanh nghiệp để phục vụ sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả, tự huy động vốn, được phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật, được sử dụng quỹ khấu hao cơ bản theo quy định.
2. Nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quản lý tài sản nhà nước giao:
Doanh nghiệp nhà nước có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn do nhà nước giao, bao gồm cả phần vốn đầu tư và đoanh nghiệp khác (nếu có); nhận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác do nhà nước giao cho doanh nghiệp. thực hiện đúng chế độ và quy định về quản lý vốn, tài sản các quỹ, về kế toán, hạch toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do nhà nước quy định.
Bảo toàn vốn và tài sản trong các doanh nghiệp quốc doanh, đảm bảo các loại tài sản không bị hư hỏng trước thời hạn hoặc mất mát, hoặc ăn chia vào vốn, không được tạo lãi giả để làm giảm vốn kể cả vốn cố định và vốn lưu động. Doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì được giá trị đồng vốn của mình để thể hiện bằng năng lực sản xuất của tài sản cố định khả năng mua sắm vật tư cho dự trữ và tài sản lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của xí nghiệp.
3. Chuyển dịch, điều động tài sản nhà nướ đầu tư vào doanh nghiệp:
Tài sản nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp có thể được chuyển dịch dưới các hình thức: điều động, chuyển nhượng, đưa vào liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần ... hoặc thanh lý hoặc bị phá sản.
Nguyên tắc chung là mọi tài sản nhà nước được điều động, chuyển nhượng, đưa vào liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần .. đều phải được kiểm kê số lượng, xác định đúng nguyên giá và giá trị còn lại trên sổ sách kế toán; đồng thời phải xác định nguyên giá tài sản theo thời giá, giá trị tài sản còn lại theo thời giá .... trên cơ sở đó lập biên bản giao nhận giữa bên giao và bên nhận tài sản có sự chứng kiến của cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính cùng cấp.
4. Khấu hao:
Trong quá trình sử dụng tài sản nhà nước là tài sản cố định doanh nghiệp phải thực hiện khấu hao, bao gồm hai phần:
- Khấu hao cơ bản: khopản khấu hao này doanh nghiệp phải nộp đủ cho ngân sách nhà nước, trừ trường hợp được phép để lại.
- Khấu hao sửa chữa lớn: để đáp ứng nhu cầu vốn sửa chữa lớn trong quá trình sử dụng tài sản nhà nước khi doanh nghiệp bị phá sản – tài sản của nhà nước được bảo quản, xử lý theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp.


Câu 22. Quản lý nhà nước về hải quan?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm:
Quản lý nhà nước về hải quan là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện trên thực tế các chính sách của nhà nước về hải quan.
Hải quan việt nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường VN; đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền VN qua biên giới.
2. Một số nội dung chủ yếu trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan:
a. Kiểm tra, giám sát hải quan:
- Kiểm tra hải quan là những biện pháp mà cơ quan hải quan được phép áp dụng để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật về hải quan đối với các đối tượng chịu sự quản lý nhà nước về hải quan mà chủ yếu là việc xem xét, đánh giá thực trạng đối tượng trên cơ sở hồ sơ hải quan và những tiêu chuẩn định mức mà pháp luật quy định.
- Giám sát hải quan là những biện pháp mà cơ quan hải quan được phép áp dụng để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật về hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu chưa hoàn thành thủ tục hải quan, hàng hoá xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan nhưng chưa thực xuất và các phương tiện vận tải quá cảnh lãnh thổ VN bao gồm việc theo dõi trực tiếp đối tựơng giám sát và các biện pháp giám sát cụ thể khác theo quy định của pháp luật về hải quan.
- Hai lọai chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật kiểm tra, giám sát hải quan là chủ thể kiểm tra, giám sát và chủ thể bị kiểm tra, giám sát.
Chủ thể kiểm tra, giám sát hải quan là các cơ quan hải quan. Các nhân viên hải quan là người được giao quyền trực tiếp thực hiện việc kiểm tra, giám sát hải quan tại các địa điểm kiểm tra, giám sát hải quan cụ thể. Vậy chủ thể kiểm tra, giám sát hải quan là các nhân viên hải quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Chủ thể bị kiểm tra, giám sát hải quan là đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu mà chủ thể kiểm tra, giám sát hải quan đưa ra. Tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát hải quan, trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể bị kiểm tra, giám sát hải quan là người khai hải quan. Vậy chủ thể bị kiểm tra, giám sát hải quan là người khai hải quan.
- Theo Pháp lệnh hải quan: hàng hoá, hành lý, ngoại hối, tiền VN, bưu kiện, bưu phẩm, các đồ vật và tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường VN (gọi chung là đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan) khi qua biên giới VN đều chịu sự quản lý nhà nước về hải quan theo quy định của pháp luật.
- Thời điểm kiểm tra hải quan: Việc kiểm tra hải quan được thực hiện từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đối tượng kiểm tra cho tới khi thực xuất hoặc từ thời điểm đối tượng kiển tra tới cửa khẩu nhập đầu tiên cho đến khi hoàn thành thủ tục hải quan.
Để thực hiện kiểm tra hải quan, nhân viên hải quan có thẩm quyền cần dựa trên các căn cứ: Hồ sơ hải quan; các quy định của pháp luật liên quan đến đối tượng kiểm tra; thực tế đối tượng kiểm tra hải quan.
Địa điểm kiểm tra hải quan: về nguyên tắc, việc kiểm tra hải quan được tiến hành tại cửa khẩu hoặc địa điểm kiểm tra hải quan ngoài cửa khẩu.
Phương thức kiểm tra hải quan: Việc kiểm tra hải quan có thể tiến hành bằng một trong hai phương thức sau: kiểm tra một phần bất kỳ lô hàng; kiểm tra toàn bộ lô hàng.
Và một số quy định khác.
b. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là một dạng cụ thể của vi phạm hành chính nói chung nên cũng phải thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu đặc điểm của một vi phạm hành chính, bao gồm:
- Là hành vi trái pháp luật xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trực tiếp xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước về hải quan. Các quy tắc này rất phong phú và đa dạng. Chúng được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Do tổ chức, cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý: Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan chính là chủ thể bị kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan. Các đối tượng này nhận thức được nghĩa vụ pháp lý của mình trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan nhưng đã cố ý hoặc vô ý không thực hiện các nghĩa vụ đó nên phải bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
- Hành vi đó không phải là tội phạm.
- hành vi đó được pháp luật quy định phải bị xử phạt hành chính.


Câu 23. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan trong giai đoạn hiện nay?
TRẢ LỜI:
           Nhằm thực hiện mục tiêu: tạo thuận lợi cho thương mại, phát triển đầu tư trong nước, nước ngoài và phát triển du lịch, bảo vệ cộng đồng, an ninh quốc gia, hỗ trợ Việt Nam thực hiện các cam kết của Tổ chức thương mại thế giới, trong đó có mục tiêu tạo thuận lợi và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan được chính phủ ta hết sức quan tâm.
           Quá trình triển khai Chương trình cải cách, hiện đại hóa hải quan mà ngành Hải quan thực hiện thời gian qua đã đạt được một số kết quả: quản lý rủi ro đã bước đầu được triển khai áp dụng trong hoạt động hải quan; thủ tục hải quan đã đơn giản, thuận lợi hơn, bước đầu được chuẩn hóa theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, được cộng đồng doanh nghiệp và dư luận xã hội đồng tình ủng hộ; nhận thức của cán bộ, công chức hải quan về cải cách, hiện đại hóa, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đã được nâng lên.
           Tuy nhiên, so với yêu cầu và mục tiêu đề ra, nhìn chung công tác cải cách, hiện đại hóa hải quan hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, tiến độ triển khai còn chậm, chưa đồng bộ; một bộ phận cán bộ, công chức hải quan không tích cực ủng hộ hoặc tỏ thái độ hoài nghi về mục tiêu của chương trình cải cách, hiện đại hóa hải quan; tình trạng cán bộ, công chức hải quan gây phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp hoặc tiêu cực, cố tình làm trái quy định để vụ lợi khi thực thi công vụ vẫn còn. Điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả triển khai Chương trình cải cách, hiện đại hóa hải quan và mục tiêu tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
           Để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư và du lịch, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, Bộ Tài chính đã đề ra một số gải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan trong giai đoạn hiện nay:
1- Đẩy nhanh việc thực hiện Kế hoạch cải cách, hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2008 - 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 456/QĐ-BTC ngày 14/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và tiến độ thực hiện Dự án “Hiện đại hóa Hải quan”
Lãnh đạo các cấp trong ngành Hải quan cần tiếp tục quán triệt nghiêm túc và sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, công chức hải quan về mục tiêu, yêu cầu và kế hoạch triển khai các chương trình cải cách, hiện đại hóa Hải quan.
           2- Khẩn trương sơ kết việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử giai đoạn 2 và mở rộng trong hoạt động hải quan, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu.
           3- Về cải cách thủ tục hải quan: Rà soát, sửa đổi và đơn giản hóa các thủ tục có liên quan đến hoạt động xuất, nhập khẩu trong phạm vi quản lý của Bộ Tài chính. Đồng thời tập trung rà soát, sửa đổi để thống nhất thủ tục hải quan áp dụng cho phương thức thủ công truyền thống và giao dịch điện tử. Triển khai ngay việc chuẩn bị cho xây dựng Nghị định quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan trên cơ sở kết hợp việc quy định về thủ tục hải quan điện tử với sửa đổi Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan.
           4- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu, gian lận thương mại trong các lĩnh vực: Phân tích, phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, xác định trị giá, chống gian lận về số lượng, chủng loại, ưu đãi đầu tư về thuế, trong quản lý hàng gia công, sản xuất xuất khẩu,… nhằm chống thất thu thuế, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Tổ chức triển khai thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không thống nhất, xác định giá, thuế suất, ưu đãi thuế,… không đúng quy định.
           5- Sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện trong ngành Hải quan Chỉ thị số 32/2006/CT-TTg ngày 07/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cần làm ngay để chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp.
           Tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh, quyết liệt thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ về phòng chống tham nhũng, chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật hành chính, phòng chống các biểu hiện gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan.
           Thủ trưởng các cấp trong ngành Hải quan phải đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thanh tra, kiểm tra công vụ và hoạt động nghiệp vụ tại các đơn vị hải quan cơ sở, nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động tự kiểm tra, tăng cường kiểm tra đột xuất. Xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh đối với các trường hợp gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong thi hành công vụ, xử lý nghiêm khắc trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu để xảy ra sai phạm, tiêu cực trong đơn vị hoặc trong lĩnh vực mình phụ trách.
           6- Cùng với việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả thiết thực cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ngành Hải quan phải đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục truyền thống, giáo dục ý thức nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm với công tác tài chính, công tác hải quan.


Câu 24. Quản lý nhà nước về văn hoá?
TRẢ LỜI:
1. Khái niệm và phương thức quản lý nhà nước về văn hoá:
Quản lý nhà nước về văn hoá là những hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá VN.
Nhà nước tiến hành quản lý văn hoá bằng chính sách và pháp luật về văn hoá.
2. Một số nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về văn hoá:
Có thể chia hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá thành các mảng cơ bản sau:
- Quản lý nhà nước về văn hoá nghệ thuật.
- Quản lý nhà nước về văn hoá – thông tin.
- Quản lý nhà nước về văn hoá – xã hội.
- Quản lý nhà nước về hoạt động bảo tồn, bảo tàng, phát huy giá trị các di sản văn hoá.
a. Quản lý nhà nước về văn hoá nghệ thuật:
Nhà nước tạo điều kiện để công dân có quyền bình đẳng trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và sáng tạo nghệ thuật.
Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của những người lao động nghệ thuật. ban hành các chế độ thù lao nghệ thuật hợp lý.
Nhà nước bảo hộ quyền tác giả đối với những tác phẩm của cá nhân hoặc tổ chức đã công bố hoặc chưa công bố.
Nhà nước thực hiện chính sách bảo trợ vật chất ở mức độ khác nhau cho những loại hình văn hoá nghệ thuật không thể tự tồn tại và phát triển trong quan hệ kinh tế thị trường.
Nhà nước đặc biệt quan tâm đối với loại hình nghệ thuật điện ảnh là loại hình nghệ thuật tổng hợp có ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục chính trị, tư tưởng, tình cảm, nâng cao dân trí và trình độ thẩm mĩ góp phần đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của nhân dân.
Nhà nước khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo trong các loại hình nghệ thuật, mạnh dạn trong các hình thức biểu hiện, trân trọng nhân cách, tài năng của văn nghệ sĩ. Các cấp quản lý khắc phục, ngăn ngừa sự can thiệp thô bạo vào các vấn đề văn hoá nghệ thuật.
b. Quản lý nhà nước về văn hoá - thông tin:
Nhà nước thực hiện hoạt động quản lý văn hoá thông tin nhằm phát huy vai trò của công tác thông tin trong sự nghiệp công nhiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm phát triển công tác thông tin như:
- Tăng cường và hiện đại hoá công tác thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng, nội dung phù hợp với các loại đối tượng, các dân tộc và mở rộng thông tin tới các vùng xa xôi hẻo lánh; tiếp tục phủ sóng phát thanh truyền hình trên phạm vi cả nước.
- Khôi phục và phát triển hệ thống thư viện từ trung ương đến cơ sở.
- Củng cố sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của ngành văn hó – thông tin, củng cố các hoạt động báo chí,  xuất bản, in ấn, phát hành, phổ biến rộng rãi những tác phẩm có giá trị về tư tưởng, nghệ thuật.
- Coi trọng công tác tuyên truyền đối ngoại, mở rộng giao lưu quốc tế trong lĩnh vực văn hoá – thông tin.
- Tăng cường hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về văn hoá – thông tin.
Trong quản lý nhà nước về văn hoá – thông tin, một số nội dung được đặc biệt chú ý là công tác quản lý về báo chí, xuất bản, thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật về văn hoá – thông tin, thực hiện hợp tác quốc tế về thông tin.
c. Quản lý nhà nước về văn hoá – xã hội:
Trong quản lý văn hoá – xã hội, chủ thể mquản lý cần:
- Nhận thức đúng đắn những vấn đề cơ bản của lối sống, nếp sống gắn liền với tình hình diễn biến trên phạm vi thế giới và trong nước.
- Do lối sống gắn liền với phương thức sản xuất nên điều căn bản để xây dựng một lối sống văn minh, hiện đại là làm thế nào để nâng cao năng suất lao động. con người có thể thoả mãn những nhu cầu của mình bằng lao động chân chính.
- Cần phát huy tính tích cực chính trị - xã hội trong mỗi con người để mỗi người đều có ý thức về một lối sống đẹp, sống đạo đức.
- Khôi phục những thuần phong, mĩ tục và xây dựng nếp sống mới. Cần phân biệt những lễ giáo phong kiến với những nét truyền thống đẹp về lối sống đạo đức.
d. Quản lý nhà nước về hoạt động bảo tồn, bảo tàng, phát guy giá trị các di sản văn hoá:
Nhà nước thống nhất quản lý các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh. Nội dung quản lý gồm:
- Kiểm kệ, đăng ký, công nhận và xác định các loại hình di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh.
- Quy định chế độ bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh và tổ chức thực hiện các chế độ đó.
- Thanh tra việc thu hành những quy định của pháp luật về việc bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh.

Câu 25. Quản lý nhà nước về hộ tịch, hộ khẩu?
TRẢ LỜI:
1. Quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch:
Quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là một loại quản lý nhà nước cụ thể trong lĩnh vực hành pháp do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện nhằm tác động, điều chỉnh, giải quyết các vấn đề về hộ tịch theo quy định của pháp luật.
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
- Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; nhận ch, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm; ngày tháng năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại các việc sinh, tử, kết hôn, nhhận nuôi con nuôi.
- Căn cứ vào quyết định cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ đăng ký hộ tịch các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ hôn trái pháp luật, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc những sự kiện khác do pháp luật quy định.
Quản  lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình.
Chính phủ thống nhất quản lý hộ tịch trong phạm vi cả nước.
2. Đăng ký và quản lý hộ khẩu:
Đăng ký và quản lý hộ khẩu là một hoạt động quản lý nhà nước rất quan trọng liên quan mật thiết đến quyền tự do cư trú của công dân và sự điều chỉnh của nhà nước về dân số.
Một trong những quyền cơ bản của công dân là quyền tự định đoạt nơi cư trú của mình. Hiến pháp nước CHXHCNVN quy định: công dân có quyền đi lại và tự do cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.
Nơi cư trú được xác định theo quy định của pháp luật.
Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Pháp luật nước ta quy định: công dân nước CHXHCNVN có quyền và nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ khẩu với cơ quan công an theo quy định.
Mọi công dân phải đăng ký hộ khẩu ở nơi cư trú gọi là hộ khẩu thường trú. Khi chuyển đến cư trú ở nơi mới phải thực hiện đầy đủ chế độ đăng ký, quản lý hộ khẩu lại theo quy định, trừ một số đối tượng bị hạn chế đăng ký hộ khẩu là những người đang trong thời gian thi hành bản án của toà án và những người đang phải thi hành quyết định cư trú bắt buộc, chịu sự quản lý hành chính của chính quyền địa phương thì chưa được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú nơi khác.
Những người đang thi hành bản án, quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấm cư trú thì không được đăng ký hộ khẩu thường trú ở khu vực bị cấm.
Những người có quan hệ về gia đình, cùng ở chung một nhà thì đăng ký thành một hộ gia đình, mỗi hộ gia đình phải có một người đứng tên chủ hộ.
Những người đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội sống độc thân tại nhà ở tập thể cơ quan thì đăng ký theo nhân khẩu tập thể và từng người phải trực tiếp đăng ký hộ khẩu vối cơ quan công an.
Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, công nhân, nhân viên của quân đội nhân dân và Công an nhân dân ở trong doanh trại hoặc nhà tập thể của quân đội, công an thì đăng ký, quản lý hộ khẩu theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Những công dân đang trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự thì không được đăng ký hộ khẩu gia đình.
Chính phủ giao Bộ Công an phụ trách việc đăng ký, quản lý hộ khẩu.


Câu 26. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hỗ trợ tư pháp?
TRẢ LỜI:
Quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực hỗ trợ tư pháp có vai trò rất quan trọng thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong việc thực thi quyền lực tập trung, thống nhất của nhà nước CHXHCNVN.
Các lĩnh vực hỗ trợ tư pháp gồm: Công chứng, chứng thực, luật sư, tư vấn pháp luật và thi hành án dân sự.
1. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng, chứng thực:
Quản lý hành chính nhà nước về công chứng, chứng thực là hoạt động chấp hành, điều hành của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật đối với tổ chức và hoạt động công chứng, chứng thực.
- Công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện các việc khác theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.
- Chứng thực là việc UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.
Chính phủ thống nhất quản lý công chứng, chứng thực trong phạm vi cả nước. Bộ tư pháp giúp chính phủ thực hiện quản lý thống nhất về công chứng, chứng thực trong phạm vi cả nước.
Bộ ngoại giao thực hiện quản lý nhà nước về công chứng của cơ quan đại diện VN ở nước ngoài.
UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực trong địa phương mình. Với nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật. Sở tư pháp giúp UBND cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực trong địa phương mình. Với nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật. Phòng tư pháp giúp UBND cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
2. Quản lý hành chính nhà nước về tổ chức hoạt động của luật sư:
Theo pháp luật hiện hành: Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế XHCN. Tổ chức luật sư ở nước ta hiện nay là các Đoàn luật sư được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để giúp công dân và các tổ chức về mặt pháp lý.
Đoàn luật sư được nhà nước khuyến khích, giúp đỡ và chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của nhà nước theo quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động luật sư.
Chính phủ quản lý thống nhất tổ chức và hoạt động luật sư trong phạm vi cả nước.
Bộ tư pháp hướng dẫn thủ tục thành lập đoàn luật sư; kiểm tra việc thực hiện quy chế của các Đoàn luật sư và luật sư; hướng dẫn bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ cho các luật sư; tổng kết, phổ biến kinh nghiệm và thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động luật sư.
HĐND, UBND cấp tỉnh phối hợp với uỷ ban mặt trận tổ quốc thường xuyên giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của Đoàn luật sư ở địa phương mình, có những kiến nghị cần thiết và kịp thời với ban chủ nhiệm Đoàn luật sư.
Các cơ quan khác của nhà nước, các tổ chức xã hội có nhiệm vụ giúp đỡ Đoàn luật sư và các luật sư trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Về tổ chức, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thành lập một đoàn luật sư.
3. Quản lý hành chính nhà nước về thi hành án dân sự:
Quản lý hành chính nhà nước về thi hành án dân sự là hoạt động chấp hành điều hành của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước. Bộ tư pháp giúp chính phủ quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự và tổ chức việc thi hành án dân sự.
UBND cấp tỉnh, huyện thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự và tổ chức việc thi hành án dân sự ở địa phương theo quy định của Chính phủ. Các cơ quan tư pháp địa phương giúp UBND cùng cấp và cơ quan tư pháp cấp trên trong việc quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự.
Bộ trưởng  Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ tư pháp giúp chính phủ quản lý nhà nước về công tác thi hành quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Toà án quân sự và tổ chức các cơ quan thi hành quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Toà án quân sự.


Câu 27. Quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của luật sư?
TRẢ LỜI:
Theo pháp luật hiện hành: Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế XHCN. Tổ chức luật sư ở nước ta hiện nay là các Đoàn luật sư được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để giúp công dân và các tổ chức về mặt pháp lý.
Đoàn luật sư được nhà nước khuyến khích, giúp đỡ và chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của nhà nước theo quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động luật sư.
Chính phủ quản lý thống nhất tổ chức và hoạt động luật sư trong phạm vi cả nước.
Bộ Tư pháp hướng dẫn thủ tục thành lập đoàn luật sư; kiểm tra việc thực hiện quy chế của các Đoàn luật sư và luật sư; hướng dẫn bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ cho các luật sư; tổng kết, phổ biến kinh nghiệm và thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động luật sư.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền đình chỉ thi hành và đề nghị sửa đổi những quy định của Đoàn luật sư trái với quy định của pháp luật về luật sư.
HĐND, UBND cấp tỉnh phối hợp với uỷ ban mặt trận tổ quốc thường xuyên giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của Đoàn luật sư ở địa phương mình, có những kiến nghị cần thiết và kịp thời với ban chủ nhiệm Đoàn luật sư.
Các cơ quan khác của nhà nước, các tổ chức xã hội có nhiệm vụ giúp đỡ Đoàn luật sư và các luật sư trong khi thực hiện nhiệm vụ.
UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ giúp đỡ cơ sở vật chất cho Đoàn luật sư khi ,ới thành lập và tạo điều kiện thuận lợi khác cho Đoàn luật sư và các luật sư hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Thủ tục thành lập đoàn luật sư: theo quy định của pháp luật.
Về tổ chức Đoàn luật sư và các luật sư:
Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thành lập một đoàn luật sư. Đối với những tỉnh địa bàn rộng, số lượng luật sư đông có thể đặt thêm chi nhánh giao dịch; mỗi chi nhánh ít nhất phải có từ 2 luật sư trở lên. Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư cử người phụ trách chi nhánh. Mọi hoạt động của chi nhánh chịu sự lãnh đạo thống nhất của Ban chủ nhiệm.
Điều kiện gia nhập Đoàn luật sư được quy định tại Điều 11, Pháp lệnh tổ chức luật sư và Điều 6 Quy chế Đoàn luật sư.
Con dấu của Đoàn luật sư được quy định tại Điều 2 Quy chế Đoàn luật sư. Dấu có hình dạng và kích thước như con dấu của các tổ chức, đơn vị công tác chuyên môn, sự nghiệp hoạt động độc lập trực thuộc UBND tỉnh.
Việc hướng dẫn kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Đoàn luật sư:
- Bộ tư pháp thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Đoàn luật sư theo Điều 5 Pháp lệnh tổ chức luật sư và Điều 45 Quy chế Đoàn luật sư. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên, Bộ trưởng Bộ tư pháp uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp tiến hành một số việc sau:
+ Hướng dẫn thủ tục chuẩn bị thành lập Đoàn luật sư.
+ Theo dõi tình hình hoạt động của Đoàn luật sư và kiểm tra việc thực hiện Quy chế Đoàn luật sư tại địa phương để báo cáo với Bộ  trưởng Bộ Tư pháp và UBND cùng cấp.
+ Tiến hành các biện pháp nhằm bảo đảm cho luật sư thực hiện được các quyền của mình trong hoạt động tố tụng.
+ Phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương tham mưu cho UBND tỉnh tạo điều kiện giúp đỡ về vật chất cho Đoàn luật sư và thực hiện chế độ, chính sách đối với các luật sư.
+ Sưu tập và cung cấp các tài liệu cần thiết cho Đoàn luật sư và các luật sư; giúp Bộ tiến hành một số công tác chuẩn bị việc bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ cho các luật sư.
Trong khi thực hiện những công việc do Bộ trưởng uỷ quyền, nếu có ý kiến khác nhau giữa Sở Tư pháp và UB mặt trận tổ quốc tỉnh, thì kịp thời báo cáo với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Theo quy chế Đoàn luật sư, các Đoàn luật sư có nhiệm vụ định kỳ báo cáo hoạt động của mình lên Bộ Tư pháp, UBND, UB mặt trận tổ quốc tỉnh. Đối với những việc mà Giám đốc Sở Tư pháp được Bộ trưởng uỷ quyền, khi Đoàn luật sư gửi báo cáo lên các cơ quan nói trên cần đồng thời gưỉ cho Giám đốc Sở Tư pháp để theo dõi.


Câu 28. Thanh tra và cơ quan thanh tra nhà nước?
TRẢ LỜI:
1. Thanh tra:
Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý hành chính nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỹ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ XHCN do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành thông qua hoạt động tự kiểm tra, xem xét, kiểm soát và kiểm tra, xem xét các đối tượng có liên quan trong việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch được giao nhằm pháp huy nhân tố tích cự, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước; các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Đặc điểm của thanh tra:
- Là một bộ phận của quản lý nhà nước thuộc chức năng thiiết yếu.
- Là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật.
- Là biện pháp bảo đảm quá trình dân chủ hoá XHCN.
- Là hoạt động phong phú, đa dạng, tác động đến nhiều đối tượng khác nhau của các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.
2. Cơ quan thanh tra nhà nước:
Các tổ chức thanh tra nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn chung sau:
1. Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và c1 nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, kiểm sát của các cơ quan điều tra, kiểm soát, toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế.
2. Xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo.
3. Trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động thanh tra đối với cơ quan, tổ chức hữu quan.
4. Tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra.
5. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về quản lý nhà nước cần sửa đổi, bổ sung, hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước.
Hệ thống tổ chức thanh tra:
Hệ thống thanh tra ở nước ta được tổ chức theo một trật tự, có mối liên hệ mật thiết với nhau từ trung ương đến địa phương và trong các đơn vị cơ sở:
a. Thanh tra nhà nước:
Là cơ quan của chính phủ Cơ quan ngang Bộ, có chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, thực hiện quyền thanh tra trong cả nước.
Thanh tra nhà nước gồm có: Tổng thanh tra nhà nước, các Phó tổng thanh tra nhà nước và các thành viên.
b. Tổ chức thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ:
Căn cứ vào Pháp lệnh thanh tra, Bộ trưởng sau khi thống nhất với Tổng thanh tra nhà nước ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ. Mỗi Bộ chỉ thành lập một tổ chức Thanh tra Bộ bao gồm các hoạt động thanh tra nhà nước thuộc Bộ; chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng và sự chỉ đạo về công tác tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra nhà nước.
Bộ máy của Thanh tra Bộ tuỳ tình hình cụ thể của mỗi Bộ có thể thành lập các phòng hoặc tổ thanh tra theo từng lĩnh vực hoặc thực hiện theo quy chế thủ trưởng trực tiếp với thanh tra viên, chuyên viên.
Đối với Bộ quản lý chỉ đạo theo ngành dọc hoặc theo ngành dọc là chủ yếu thì tổ chức và mối quan hệ chỉ đạo của Thanh tra Bộ với tổ chức thanh tra của cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trực thuộc Bộ được quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ.
Thanh tra Bộ có chánh thanh tra và Phó chánh thanh tra. Chánh thanh tra chịu trách nhiệm trực tiếp trước Bộ trưởng, đồng thời chịu trách nhiệm trước Tổng thanh tra nhà nước về toàn bộ công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
c. Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
Được tổ chức theo quy định tại Điều 16, 17, 18 của Pháp lệnh thanh tra và Điều 3 của Nghị định 244 – HĐBT ngày 30/06/1990.Thanh tra tỉnh có Chánh thanh tra, Phó chánh thanh tra, các cơ quan giúp việc.
d. Tổ chức thanh tra sở:
Thanh tra sở là tổ chức chuyên trách, có Chánh thanh tra và một phó chánh thanh tra. Chánh thanh tra chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc sở và chánh thanh tra tỉnh về toàn bộ công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của sở.
tổ chức và biên chế của Thanh tra sở do Giám đốc sở đề nghị, Chánh thanh tra tỉnh trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
e. Tổ chức thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: Mỗi quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải thành lập một tổ chức thanh tra nhà nước chuyên trách, Thanh tra huyện có Chánh thanh tra và một Phó chánh thanh tra. Chánh thanh tra chịu trách nhiệm trực tiếp trước UBND huyện  và chánh thanh tra tỉnh về toàn bộ công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của UBND huyện.
g. Thanh tra nhà nước xã, phường, thị trấn: không hình thành tổ chức thanh tra mà chức năng thanh tra nhà nước  ở đây do UBND cùng cấp đảm nhận, do Chủ tịch UBND trực tiếp phụ trách, mỗi uỷ viên Ub có trách nhiệm thanh tra theo từng lĩnh vực mình phụ trách.


Câu 29. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại?
TRẢ LỜI:
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Chủ thể khiếu nại: Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền.... cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật.
- Quyền của người khiếu nại: Luật khiếu nại, tố cáo quy định người khiếu nại có các quyền cụ thể như sau:
Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại; Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại; Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; Được khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính; Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.
- Nghĩa vụ của người khiếu nại:
 Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; Trình bày trung thực vụ việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó; Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định, giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
- Quyền của người bị khiếu nại:
Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại; Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại tiếp theo đối với khiếu nại mà mình đã giải quyết nhưng người khiếu nại tiếp tục khiếu nại.
- Nghĩa vụ của người bị khiếu nại: Tiếp nhhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại; thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình; trong trường hợp khiếu nại do cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách niệm chuyển đến thì phải thông báo việc giải quyết hoặc kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo; giải trình về quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định, giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Luật khiếu nại, tố cáo quy định rõ thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp; của thủ trưởng các cơ quan chuyên ngành, chuyên môn ở địa phương; của thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; Của Tổng thanh tra nhà nước và Chánh thanh tra các cấp; của Thủ tướng Chính phủ. Và phân định thhẩm quyền giải quyết khiếu nại.
- Thủ tục giải quyết khiếu nại: Luật khiếu nại, tố cáo quy định một số nội dung chủ yếu về thủ tục khiếu nại như sau;
Thứ nhất, người khiếu nại lần đầu phải khiếu nại với người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ hai, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính. Trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khá mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian trở ngại đó không tính.
Thứ ba, trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì đơn khiếu nại phải thể hiện những nội dung chính sau: ngày, tháng, năm khiếu nại; họ tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; yêu cầu của người khiếu nại. đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên. Nếu người khiếu nại thông qua người đại diện thì người đại diện phải xuất trình giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và theo thủ tục nêu trên.


Câu 30. Tố cáo và giải quyết tố cáo?
TRẢ LỜI:
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do luật định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tở chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Người tố cáo có các quyền: Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình; yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức cói thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập, trả thù.
- Người tố cáo có các nghĩa vụ sau: trình bày trung thực về nội dung tố cáo; nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
- Người bị tố cáo có các quyền sau: Được thông báo về nội dung tố cáo; đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra; yêu câù cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
- Nghĩa vụ của người bị tố cáo: Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu câu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quản do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo: thẩhm quyền giải quyết tố cáo được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo.
- Thủ tục giải quyết tố cáo:
Cơ quan nhà nước nhhận được đơn tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau:
+ Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải thụ lý để giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật khiêú nại, tố cáo. Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền thì chậm nhất trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được phải chuyển đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết.
+ Trường hợp đơn tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc xem xét, xử lý đơn tố cáo đó.
+ Trường hợp tố cáo hành vi phạm tội thì chuyển cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xử lý theo quy định.
+ Trường hợp hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước, của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân thì cơ quan nhận đơn phải báo ngay cho cơ quan chức năng để có biện pháp ngăn chặn.
Việc tiếp nhận đơn thư hoặc nội dung tố cáo được thực hiện theo các thủ tục sau:
+ Trường hợp người tố cáo trình bày trực tiếp thì người tiếp nhận phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên, địa chỉ người tố cáo. Bản ghi nội dung tố cáo phải cho người tố cáo đọc lại, nghe lại và ký xác nhận.
+ Khi tiếp nhận thông tin, tài liệu do người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì người giải quyết tố cáo phải làm giấy biên nhận.
Việc thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình xác minh, giải quyết tố cáo phải được thực hiện theo đúng pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Căn cứ vào kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:
+ Trường hợp người bị tố cáo không vi phạm pháp luật, không vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thì phải có kết luận rõ ràng và thông baó bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật.
+  Trường hợp người bị tố cáo có vi phạm pháp luật, có vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt. vi phạm hành chính thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý, đồng thời áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để quyết định, kiến nghị xử lý được chấp hành nghiêm chỉnh.
+ Trường hợp hành vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Người giải quyết tố cáo phải gửi văn bản kết luận vụ việc tố cáo, quyết định xử lý tố cáo cho cơ quan thanh tra, cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp; thông báo cho người tố cáo kết quả giải quyết nếu họ có yêu cầu, trừ những nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước.
_______________
Share this article :

Đăng nhận xét

 
Liên hệ : kh10a3@gmail.com | Facebook KH10A3
Bản quyền © 2009-2011. KH10A3 ONLINE
Phát triển bởi Hoàng Mạnh Tuấn